close

NVMe là gì? Ổ SSD NVMe, chuẩn PCIe và cách nhận biết

Tác giả: Đông Tùng Ngày đăng: 05/08/2022 Chuyên mục: Quản trị Server & Linux
Disclosure
Website Tino blog được cung cấp bởi Tino Group. Truy cập và sử dụng website đồng nghĩa với việc bạn đồng ý với các điều khoản và điều kiện trong chính sách bảo mật - điều khoản sử dụng nội dung. Tino Group có thể thay đổi điều khoản sử dụng bất cứ lúc nào. Việc bạn tiếp tục sử dụng Tino blog sau khi thay đổi có nghĩa là bạn chấp nhận những thay đổi đó.
Why Trust Us
Các bài viết với hàm lượng tri thức cao tại Tino blog được tạo ra bởi các chuyên viên Marketing vững chuyên môn và được kiểm duyệt nghiêm túc theo chính sách biên tập bởi đội ngũ biên tập viên dày dặn kinh nghiệm. Mọi nỗ lực của chúng tôi đều hướng đến mong muốn mang đến cho cộng đồng nguồn thông tin chất lượng, chính xác, khách quan, đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn cao nhất trong báo cáo và xuất bản.

NVMe (NVM Express, viết tắt của Non-Volatile Memory Express) là giao thức để máy tính giao tiếp với ổ SSD, chủ yếu qua đường PCI Express (PCIe), được thiết kế riêng cho bộ nhớ flash. Ổ SSD NVMe vì vậy có độ trễ thấp hơn và băng thông cao hơn nhiều lần so với SSD SATA.

Tốc độ thực tế của ổ NVMe còn phụ thuộc thế hệ PCIe (3.0, 4.0, 5.0) và dạng ổ (M.2, U.2, EDSFF). Nếu bạn đang chọn máy chủ ảo (VPS) dùng ổ NVMe, xem VPS NVMe là gì.

NVMe là gì?

NVMe là bộ đặc tả quy định cách phần mềm giao tiếp với bộ nhớ không mất dữ liệu khi tắt điện (non-volatile memory), chủ yếu là ổ SSD. NVMe chạy được qua PCIe, RDMA và TCP; trong máy tính và máy chủ thông thường, NVMe gần như luôn đi cùng PCIe.

Đặc tả do tổ chức phi lợi nhuận NVM Express phát triển. Bản NVMe 1.0 phát hành ngày 1/3/2011 (NVMe Overview). Bộ đặc tả hiện hành là NVMe 2.4, gồm đặc tả nền (Base), các bộ lệnh và các đường truyền (NVM Express).

SSD NVMe là gì?

SSD NVMe là ổ SSD dùng giao thức NVMe và cắm vào đường PCIe thay vì cổng SATA. NVM Express chấp nhận cả cách gọi “PCIe SSD” lẫn “NVMe SSD”, vì từ 2011 đến nay SSD NVMe đều chạy trên PCIe (NVM Express). Ổ NVMe vẫn dùng chip NAND flash như SSD SATA; khác biệt nằm ở đường truyền và giao thức.

NVMe hoạt động như thế nào?

NVMe nối ổ SSD với CPU qua các làn PCIe và cho phép gửi rất nhiều lệnh đọc ghi song song. SATA chỉ có một hàng đợi tối đa 32 lệnh, còn NVMe hỗ trợ tới 64K hàng đợi, mỗi hàng đợi 64K lệnh. Mỗi nhân CPU có thể có hàng đợi riêng nên không phải chờ khoá (NVMe Overview).

Sơ đồ so sánh cách gửi lệnh: với SSD SATA, bốn nhân CPU dồn vào một hàng đợi chung tối đa 32 lệnh, đi qua bộ điều khiển SATA/AHCI thiết kế cho ổ quay rồi cổng SATA tối đa 6 Gb/s (khoảng 0,6 GB/s), nên các nhân phải chờ nhau; với SSD NVMe, mỗi nhân CPU có hàng đợi riêng, lệnh đi qua làn PCIe (thường x4) không qua AHCI tới bộ điều khiển NVMe trên ổ, hỗ trợ tới 64K hàng đợi × 64K lệnh
  • Bỏ lớp AHCI: AHCI được thiết kế cho ổ cứng quay, nơi mỗi lần đọc phải chờ đầu từ di chuyển.
  • Bộ lệnh gọn: cũng theo tài liệu này, NVMe cần chưa tới một nửa số lệnh CPU cho một yêu cầu I/O so với SAS hay SATA. SAS dùng bộ lệnh SCSI, SATA dùng bộ lệnh ATA qua AHCI, cả hai có nhiều lớp xử lý và bước xác nhận hơn NVMe (NVM Express).
  • IOPS cao: tài liệu tổng quan của NVM Express ghi SATA tối đa khoảng 200.000 IOPS, thiết bị NVMe đã đạt trên 1.000.000 IOPS. Khái niệm IOPS xem tại IOPS là gì.

SSD NVMe khác SSD SATA thế nào?

SSD NVMe và SSD SATA đều dùng chip flash, nhưng SSD SATA đi qua cổng SATA tối đa 6 Gb/s và giao thức AHCI, còn SSD NVMe đi thẳng qua PCIe. Theo NVM Express, SSD NVMe PCIe 3.0 x4 nhanh hơn SSD SATA khoảng 6–7 lần, SSD PCIe 4.0 nhanh hơn khoảng 12–13 lần (NVM Express).

Tiêu chíSSD SATASSD NVMe
Đường truyềnSATA, tối đa 6 Gb/s (SATA-IO)PCIe, thường 4 làn (x4)
Giao thứcAHCI (thiết kế cho ổ quay)NVMe (thiết kế cho bộ nhớ flash)
Hàng đợi lệnh1 hàng đợi, 32 lệnhTới 64K hàng đợi × 64K lệnh
Băng thông lý thuyếtKhoảng 600 MB/s (6 Gb/s, mã hoá 8b/10b)Khoảng 4 GB/s (PCIe 3.0 x4) đến 16 GB/s (PCIe 5.0 x4) mỗi chiều
Dạng ổ thường gặp2,5 inch, M.2 SATAM.2, U.2, card PCIe, EDSFF
Hợp vớiNâng cấp máy cũ, lưu trữ dung lượng lớn giá thấpHệ điều hành, cơ sở dữ liệu, máy ảo, máy chủ nhiều truy cập
Nguồn: NVM Express, SATA-IO, PCI-SIG, truy cập 21/10/2026. Tốc độ thật phụ thuộc bộ điều khiển, chip nhớ và nhiệt độ.

Các thế hệ PCIe 3.0, 4.0, 5.0 khác nhau ra sao?

Mỗi thế hệ PCIe tăng gấp đôi tốc độ truyền mỗi làn, từ 8 GT/s ở PCIe 3.0 lên 32 GT/s ở PCIe 5.0. Các thế hệ tương thích ngược, nhưng ổ chỉ chạy ở tốc độ của thế hệ thấp hơn giữa ổ và khe cắm.

Ba ví dụ tốc độ thực của ổ NVMe theo khe cắm: ổ PCIe 5.0 x4 (khoảng 16 GB/s) cắm khe PCIe 4.0 x4 chỉ chạy khoảng 8 GB/s như ổ PCIe 4.0; ổ PCIe 4.0 x4 cắm khe M.2 chỉ nối 2 làn còn khoảng 4 GB/s, mất một nửa băng thông; ổ PCIe 3.0 x4 cắm khe PCIe 5.0 vẫn khoảng 4 GB/s. Liên kết chạy ở thế hệ thấp hơn và số làn ít hơn; trên Linux so LnkCap với LnkSta trong lệnh lspci -vv
Thế hệTốc độ mỗi lànBăng thông mỗi làn, mỗi chiềuỔ NVMe x4, mỗi chiềuNguồn
PCIe 3.08 GT/sKhoảng 1 GB/sKhoảng 4 GB/sPCI-SIG FAQ 3.0
PCIe 4.016 GT/sKhoảng 2 GB/sKhoảng 8 GB/sPCI-SIG FAQ 4.0
PCIe 5.032 GT/sKhoảng 4 GB/sKhoảng 16 GB/sPCI-SIG FAQ 5.0
PCIe 6.064 GT/sKhoảng 8 GB/sKhoảng 32 GB/sPCI-SIG
PCIe 7.0 (đặc tả 6/2025)128 GT/sKhoảng 16 GB/sKhoảng 64 GB/sPCI-SIG qua Business Wire
GT/s và băng thông theo PCI-SIG (truy cập 21/10/2026). Cột x4 = mỗi làn × 4, chưa trừ phần hao do giao thức.

Số làn cũng tính như thế hệ: ổ x4 cắm vào khe M.2 chỉ nối 2 làn thì băng thông còn một nửa. Tốc độ in trên hộp ổ SSD là con số hãng đo trong điều kiện thuận lợi; ổ phổ thông hiện chủ yếu ở PCIe 4.0 và 5.0. Ổ PCIe 4.0 và 5.0 toả nhiệt nhiều hơn SSD SATA khi đọc ghi liên tục; thiếu tản nhiệt, ổ sẽ tự giảm tốc.

M.2, U.2, AIC và EDSFF: NVMe có những dạng nào?

NVMe là giao thức, không phải hình dạng ổ. Theo NVM Express, SSD NVMe có các dạng U.2, M.2, card cắm PCIe (AIC) và EDSFF (NVM Express). M.2 là chuẩn kích thước do PCI-SIG định nghĩa, hỗ trợ cả SATA lẫn PCIe, nên ổ M.2 chưa chắc là NVMe (NVM Express).

Hình vẽ theo tỉ lệ năm cỡ ổ M.2 cùng rộng 22 mm: 2230 dài 30 mm cho máy nhỏ gọn, máy chơi game cầm tay; 2242 dài 42 mm cho laptop, máy tính mini; 2260 dài 60 mm ít gặp; 2280 dài 80 mm là cỡ phổ biến ở PC, laptop; 22110 dài 110 mm cho máy trạm, máy chủ. Hai số đầu của mã là chiều rộng, các số sau là chiều dài; khấc B, M hay B+M chỉ quyết định ổ cắm vừa khe, không cho biết ổ là SATA hay NVMe
DạngHình dángThường dùng ởLưu ý
M.2Thanh nhỏ cắm thẳng lên bo mạch, ví dụ 2280 (rộng 22 mm, dài 80 mm)Laptop, PC, ổ khởi động máy chủCó cả M.2 SATA; xem nhãn “NVMe” hoặc “PCIe” trên ổ và trong tài liệu bo mạch
U.2Ổ 2,5 inch, đầu nối riêngMáy chủ, tủ lưu trữThường thay nóng ở khay phía trước máy chủ
AIC (Add-in Card)Card cắm khe PCIe như card đồ họaMáy trạm, máy chủDùng làn của khe cắm, dễ tản nhiệt
EDSFFHọ kích thước mới (E1, E3)Máy chủ mật độ caoXếp được nhiều ổ, làm mát tốt
Theo NVM Express (Specifications, FAQ M.2), truy cập 21/10/2026.

Làm sao kiểm tra ổ cứng có phải NVMe không?

Cách nhanh để biết ổ có phải NVMe là xem loại bus mà hệ điều hành báo: trên Windows dùng lệnh Get-PhysicalDisk và xem cột BusType, trên Linux dùng lsblk và xem cột TRAN. Nếu chỉ muốn biết ổ là HDD hay SSD, xem cách xem ổ cứng là HDD hay SSD.

Trên Windows

# PowerShell: BusType = NVMe là ổ NVMe; SATA là ổ SATA
Get-PhysicalDisk | Select-Object FriendlyName, BusType, MediaType, Size

BusType được định nghĩa trong lớp MSFT_PhysicalDisk, NVMe có mã 17 (Microsoft Learn). Cách khác: Task Manager → Performance, xem dòng Type của ổ.

Trên Linux

# TRAN = nvme là ổ NVMe; ROTA = 0 là ổ không quay (SSD)
lsblk -d -o NAME,TRAN,ROTA,SIZE,MODEL

# Liệt kê ổ NVMe chi tiết (Ubuntu/Debian: cài gói nvme-cli)
sudo apt install nvme-cli
sudo nvme list

# Xem tốc độ, số làn PCIe của bộ điều khiển NVMe (lớp thiết bị 0108)
sudo lspci -vv -d ::0108 | grep -E 'LnkCap:|LnkSta:'

Cột TRAN của lsblk là kiểu đường truyền (man lsblk); lệnh nvme thuộc dự án nvme-cli. So LnkCap (tốc độ ổ hỗ trợ) với LnkSta (tốc độ đang chạy): LnkCap 16GT/s mà LnkSta 8GT/s nghĩa là ổ PCIe 4.0 đang chạy ở tốc độ PCIe 3.0.

Máy tính có hỗ trợ NVMe không?

Máy hỗ trợ NVMe khi bo mạch có khe M.2 nối với làn PCIe (tài liệu thường ghi “M.2 PCIe” hoặc “M.2 NVMe”; chữ “M key” chỉ là kiểu khấc, không đảm bảo khe nối làn PCIe), hoặc có khe PCIe trống để gắn card chuyển.

Muốn khởi động hệ điều hành từ ổ NVMe, firmware UEFI cũng phải hỗ trợ. Cách chắc chắn là tra trang thông số theo đúng mã bo mạch hoặc laptop.

NVMe được dùng thế nào trong máy chủ và VPS?

Trong máy chủ, ổ NVMe thường ở dạng U.2 hoặc EDSFF để thay nóng và được ghép RAID để vừa nhanh vừa chịu được hỏng ổ. Nhờ vậy một máy chủ phục vụ nhiều máy ảo và cơ sở dữ liệu cùng lúc mà ổ đĩa không thành điểm nghẽn. Cách ghép ổ xem tại SSD RAID là gì.

NVMe over Fabrics là gì?

NVMe over Fabrics (NVMe-oF) mở rộng giao thức NVMe qua mạng, để máy chủ truy cập ổ NVMe ở hệ thống lưu trữ khác qua RDMA, Fibre Channel hoặc TCP. Từ bộ NVMe 2.0, NVMe-oF nằm trong đặc tả nền và các đặc tả đường truyền TCP, RDMA (NVM Express). Công nghệ này phổ biến ở trung tâm dữ liệu và hệ thống đám mây.

Ổ NVMe trong VPS hiện ra thế nào?

Khi thuê VPS dùng ổ NVMe, bạn thường không thấy ổ NVMe thật. Hypervisor trình cho VPS một ổ ảo, trên Linux thường là /dev/vda (virtio) hoặc /dev/sda, nên lsblk có thể không báo TRAN là nvme. Muốn đánh giá, hãy đo bằng fio (cách benchmark ổ đĩa trên Linux). Với Cloud VPS, ổ đĩa còn nằm trên kho lưu trữ chung qua mạng nên độ trễ cao hơn ổ gắn trong (Cloud VPS khác VPS truyền thống thế nào).

Tại Tino, các gói VPS NVMe dùng ổ NVMe Enterprise RAID-10 theo trang sản phẩm (kiểm tra ngày 21/10/2026). Thông số từng gói và chính sách xem trên trang sản phẩm.

Khi nào chưa cần ổ NVMe?

Bạn chưa cần ổ NVMe khi máy chỉ dùng văn phòng và đã có SSD SATA, khi máy cũ không có khe M.2 PCIe, hoặc khi cần lưu trữ lớn ít truy cập như kho ảnh, bản sao lưu. Khi đó SSD SATA hoặc ổ cứng quay có chi phí mỗi TB thấp hơn mà trải nghiệm không khác nhiều.

  • Máy cũ không có khe M.2 PCIe: card chuyển PCIe dùng được làm ổ dữ liệu, nhưng máy có thể không khởi động từ ổ NVMe.
  • Chưa cần PCIe 5.0: ổ PCIe 4.0 đủ cho phần lớn nhu cầu; PCIe 5.0 đắt và nóng hơn, chỉ đáng khi thường xuyên chép hoặc đọc file rất lớn.

Câu hỏi thường gặp về NVMe

Ổ SSD PCIe 5.0 cắm vào khe PCIe 4.0 được không?

Được. PCIe tương thích ngược, nhưng ổ sẽ chạy ở tốc độ PCIe 4.0: với 4 làn là khoảng 8 GB/s mỗi chiều thay vì 16 GB/s. Ổ PCIe 4.0 cắm khe PCIe 5.0 cũng chỉ chạy ở tốc độ PCIe 4.0. Trên Linux, dòng LnkSta của lệnh lspci cho biết tốc độ đang chạy.

Ổ M.2 SATA cắm vào khe M.2 NVMe có chạy không?

Tùy khe. Có khe M.2 hỗ trợ cả SATA và PCIe, có khe chỉ hỗ trợ PCIe (NVMe) và sẽ không nhận ổ M.2 SATA. Tài liệu bo mạch thường ghi rõ từng khe hỗ trợ chuẩn nào; trên một số bo mạch, cắm ổ M.2 SATA còn làm tắt một cổng SATA dùng chung làn.

SSD NVMe có bền hơn SSD SATA không?

Độ bền không phụ thuộc giao thức mà phụ thuộc loại chip nhớ, bộ điều khiển và dung lượng. Hãy xem chỉ số TBW (tổng số TB ghi được) và thời hạn bảo hành hãng công bố cho từng mẫu ổ. Trên Linux, lệnh sudo nvme smart-log /dev/nvme0 cho biết mức hao mòn (percentage_used) của ổ đang dùng.

Đông Tùng

Senior Technology Writer

Là cử nhân Quản trị kinh doanh của Trường Đại học Tài chính - Marketing, Tùng bắt đầu làm việc tại Tino Group từ năm 2021 ở vị trí Content Marketing để thỏa mãn niềm đam mê viết lách của bản thân. Sở hữu khả năng sáng tạo đặc biệt, anh cùng đội ngũ của mình đã tạo nên những chiến dịch quảng cáo độc đáo cùng vô số bài viết hữu ích về nhiều chủ đề khác nhau. Sự tỉ mỉ, kiên trì và tinh thần sáng tạo của Tùng đã góp phần lớn vào thành công của Tino Group trong lĩnh vực marketing trực tuyến.

Xem thêm bài viết

Bài viết liên quan